Bán piano

Văn học Việt Nam và Nhật Bản: Giao thoa để khởi sắc

Mặc dù khá gần Văn học Việt Nam về sự ảnh hưởng của Văn hóa Hán thời gian dài nhưng tính cho tới nay, các tác phẩm văn học Nhật Bản mới chỉ được dịch sang tiếng Việt khoảng 46 cuốn. Và con số tác phẩm Văn học Việt Nam được xuất bản tại Nhật còn khiêm tốn hơn khi chỉ có 19 cuốn.

Nhận diện Văn học Nhật Bản qua giới thuyết của GS Mitsuyoshi Numano

Vì thế, hội thảo về văn học Nhật Bản của Giáo sư (GS) Văn học Đại học Tokyo – Mitsuyoshi Numano tại 4 thành phố lớn ở Việt Nam từ ngày 16/9 đến 28/9 là cơ hội để các nhà văn, các dịch giả, các độc giả có cái nhìn toàn diện về văn học Nhật Bản cũng như đi tìm sự giao thoa, hợp tác giữa hai nền văn học Nhật Bản - Việt Nam.

Nhận diện nền văn học Nhật Bản

Văn học Nhật Bản có một lịch sử lâu dài và nhất quán. Mặc dù từng bị chịu ảnh hưởng của Văn học Trung Quốc và Văn học phương Tây, nhưng từ khi ra đời vào đầu thế thứ 8 đến nay, văn học Nhật Bản vẫn được coi là “một nền văn học đồng nhất”.


Những ảnh hưởng của văn học được định danh là Kawaii - một từ hiện đại đại diện cho kiểu mỹ học Nhật Bản thường thấy trong manga (truyện tranh), anime (phim hoạt hình), mô hình các nhân vật… vượt ra khỏi biên giới

ken harmonica

Bạn là người mới tập chơi kèn harmonica, điều phân vân của bạn lúc này là mua loại kèn harmonica nào là tốt nhất, phù hợp nhất với mình? Bản và được biết tới ở nhiều nước trên thế giới.

Văn học Nhật Bản có một nét rất đặc trưng, đó là luôn hướng tới xây dựng mối quan hệ hài hòa với thế giới khách quan (Nhật Bản thường gọi đó là mono) trong thế giới của cái đẹp, không đặt mục tiêu đấu tranh với thế giới hay cải tạo thế giới. Do đó, theo GS Văn học Đại học Tokyo – Mitsuyoshi Numano thì “mỹ học Nhật Bản với chất trữ tình và cảm tính đậm nét thích hợp với nữ giới hơn nam giới”.  
Trong buổi giới thuyết với đông đảo công chúng Việt Nam tại buổi giới thiệu Văn học Nhật Bản, GS Mitsuyoshi Numano cho biết “Phần lớn các tác phẩm văn học từ trước đến nay của Nhật Bản , tính chất trữ tình và cảm tính rất mạnh mẽ”.

Theo ông, ở Nhật Bản hầu như không xuất hiện các tác phẩm thuộc thể loại sử thi anh hùng và ở nền văn học này, tính trữ tình hoàn toàn đối lập với tự sự. Ví dụ, các tác phẩm tanka vốn là chủ lưu của văn nghệ từ thời kỳ trung đại thể hiện nỗi buồn đau cá nhân hay tình cảm luyến ái mang đậm nét trữ tình chiếm tỉ lệ áp đảo. Yếu tố văn học ở đây là nỗi buồn chứ không phải niềm vui. Bởi thế, văn học Nhật Bản hướng tới những mưu cầu mang tính trữ tình của nội tâm cá nhân hơn là đối diện với các yếu tố mang tính xã hội, lịch sử.

" Kafka bên bờ biển" được nhiều bạn trẻ Việt Nam đón nhận

Đặc biệt, trong văn học Nhật Bản từ trước đến nay, các biểu đạt mang đậm chất cảm tính chủ quan được đề cao hơn các cấu trúc mang tính lý trí, logic. GS Mitsuyoshi Numano gọi khuynh hướng văn học Nhật là “coi trọng các giá trị mỹ học mạnh hơn tính luân lý”. Ông cũng cho biết, văn học Nhật Bản gọi khuynh hướng này bằng ba từ trong lịch sử văn học Nhật là Mononoaware, U huyền và Wabi/Sabi.

Văn học Nhật trong dòng chảy Văn học Việt Nam

Mặc dù khá gần Văn học Việt Nam về sự ảnh hưởng của Văn học Trung Hoa thời gian dài nhưng tính cho tới nay, các tác phẩm của Nhật mới chỉ được dịch sang tiếng Việt khoảng 46 cuốn. Trong số đó, những cuốn có tầm ảnh hưởng tới văn hóa đọc của độc giả Việt Nam chỉ điểm mặt được vài cuốn như “Rừng Nauy” (Norway no Mori), “Kafka bên bờ biển” (Umible no Kafka)…

Trong khi đó, con số tác phẩm Văn học Việt Nam được xuất bản tại Nhật cũng rất khiêm tốn hơn khi chỉ có 19 cuốn như “Truyện Kiều” (Nguyễn Du), “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” (Đặng Thùy Trâm), “Thời xa vắng” (Lê Lựu), “Hòn đất” (Anh Đức), “Gánh hàng hoa” (Khải Hưng, Nhất Linh)….  

GS Mitsuyoshi

Bán piano

nhận định, việc dịch các tác phẩm văn học Nhật Bản sang tiếng Việt hiện tại dường như vẫn còn chưa toàn diện. Các tác giả ăn khách gần đây như Murakami Haruki hay Yoshimoto Banana được giới thiệu khá nhiều song một diện mạo tổng thể bao gồm khối lượng đồ sộ nhiều tác phẩm khác vẫn chưa được biết đến.

Đặc biệt, trong mối quan hệ giữa hai nền văn học này, ông cũng tiếc vì số lượng các tác phẩm văn học Việt Nam được dịch sang tiếng Nhật còn hạn chế, hầu như người Nhật Bản không biết tới nền văn học Việt. Ông bày tỏ hy vọng “Tôi mong rằng các khía cạnh ưu thế của mỹ học Nhật Bản - vốn không thể lý giải được bằng những ngôn từ sáo rỗng như samurai hay geisha sẽ được các độc giả Việt Nam hiểu rõ hơn và văn học Nhật Bản sẽ trở nên gần gũi với các bạn”.

"Nhật ký Đặng Thùy Trâm" là một trong số ít tác phẩm văn học Việt Nam có mặt tại Nhật Bản

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên – 1 trong 4 nhà nghiên cứu phía Việt Nam diễn thuyết tại hội thảo nhận định “Văn học Nhật cùng Việt Nam, Triều Tiên, Trung Quốc còn được gọi là đồng văn, đồng chủng, cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán nên có sự tương đồng. Văn học là lĩnh vực của cảm xúc, cái đẹp và sự tinh tế ngôn từ nên không phải ai biết tiếng cũng có thể dịch được. Tiếng Nhật là chữ tượng hình, khó đọc nên khó cho các dịch giả Việt Nam dịch các tác phẩm văn học. Hiện tại, việc dịch trực tiếp từ tiếng Nhật rất ít, hầu như phải sử dụng tới ngôn ngữ thứ ba để chuyển ngữ”.

Mặc dù gặp những rào cản về ngôn ngữ và sự giao thoa trong văn học, nhưng tương lai không xa, văn học Nhật sẽ khởi sắc tại Việt Nam và văn học Việt Nam chắc chắn sẽ tăng thêm đầu sách tại Nhật khi GS Mitsuyoshi Numano khẳng định “Ở thời điểm này có nhiều bạn du học sinh Việt Nam đang học ở Nhật Bản, tương lai sẽ về nước và đóng góp vai trò lớn trong việc dịch tác phẩm từ tiếng Nhật sang tiếng Việt. Bên cạnh đó, một lượng lớn các học giả, nghiên cứu ở Nhật sẽ nghiên cứu và dịch thuật văn học Việt Nam, hy vọng sẽ tạo ra sự giao lưu giữa hai quốc gia”. Các nhà thơ Việt phải “nhường” bạn

Dưới hàng ghế đại biểu, còn nhiều ý kiến khác nhau về chất lượng của từng hoạt động. Sự kiện nổi bật nhất là đêm thơ quốc tế tối 8/1 ở Tuần Châu đã không hấp dẫn như trông đợi.

Chương trình bắt đầu với những điệu múa, câu hát tới từ đoàn nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh, mặc dù lúc đó đã là 21h. Trong khi nhiều nhà thơ Việt háo hức mang những bài tâm huyết của mình tới và mong chờ một lời mời của BTC thì cuối cùng, họ đã không có cơ hội xuất hiện. Các nhà thơ lần lượt lên sân khấu đọc thơ, kèm theo một dịch giả đọc bản dịch, chẳng có sáng kiến nào để chương trình sinh động. Khách quốc tế nghe câu được câu chăng, nhà thơ Việt thì nản khi thấy mình chắc chắn là phải “nhường” bạn trên sân khấu. Chỉ có nhà thơ Trần Nhuận Minh và Phan Thị Thanh